Sunday, 27/11/2022 - 21:34|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Trưng Nhị
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xuân về bên sườn núi

Bríu Quân nhìn Alăng Nem, lửa trên bếp đang cháy, làm cho má Nem thêm hồng. Nem xinh quá! Tốt cái bụng nữa. Nem đã chờ anh năm mùa rẫy rồi. Năm mùa rẫy là khoảng thời gian anh đi học ở dưới xuôi. Trên này, Nem chăm cho mẹ anh, giữ cho sườn đồi nhà anh luôn có bóng keo xanh ngát và giữ cho mái nhà anh không dột nát mỗi khi mưa rừng về. Quân định bụng sau mùa rẫy này sẽ sang nhà Nem ở rể để phụ giúp cho ba mẹ Nem, để cái rẫy, cái nương nhà Nem thêm xanh, cha mẹ Nem thêm nụ cười mỗi sớm.

1. Tiếng Bhríu Quân vọng từ ngoài sườn núi vào.

- Ơ! Alăng Nem ơi! Ra đây mà nếm thử này. Trái ớt này cay hơn hôm qua rồi. Mà ngày mai sẽ cay hơn hôm nay thôi.

Alăng Nem nhìn ra phía sườn núi, dáng của Bhríu Quân lọt phỏm giữ sườn núi đầy những cây ớt Ariêu đang mùa say quả. Xa quá, không thể thấy từng nét mặt của anh, nhưng chắc anh đang vui lắm. Alăng Nem nói vọng ra phía núi.

- Ơ! Vào thôi anh Bhríu Quân! Trời sắp mưa, đất trên sườn núi dễ sạt lắm đấy. Nhớ ngắt một ít ớt vào cho tôi với nhé.

Mùa này mưa dày quá, ngày nào cũng có mưa. Những cơn mưa núi dữ dội, cuốn theo đất đá từ trên đỉnh đổ xuống. Có những hòn đá to như mình con trâu thiến, lăn đùng đùng từ sườn, cuốn hết cả một vạt keo, rồi đổ nhào, nằm kềnh ra con đường từ ngoài dẫn vào làng. Vậy là làng bị tách biệt hoàn toàn, bởi chỉ có một con đường duy nhất từ thị trấn vào đây. Những lúc như thế, Bhríu Quân lại dắt trâu nhà mình vòng quanh cả làng, hú gọi lũ đàn ông ra dời đá đi để mở đường. Đi một vòng, hú khản cả cái cổ mà chẳng nghe có tiếng hú trả lời lại.

Lũ đàn ông trai tráng lười quá. Chỉ biết nhậu suốt ngày. Mùa nắng nhậu. Mùa mưa lại nhậu triền miên. Mùa nắng uống rượu Tà Vạt với lá sắn rừng hay dâu núi. Mùa mưa thì chấm hòn sỏi dưới suối với hột muối mà cũng say được cả ngày. Hỏi vì sao uống rượu miết vậy. Chúng trả lời là vì buồn. Buồn vì lũ đàn bà và mấy đứa nhỏ giành hết việc đi rẫy rồi. Buồn vì cái đường bị hòn đá chặn không qua được. Buồn vì trời nắng quá. Buồn vì trời nhiều…

Thế hỏi tiền đâu mà mua rượu. Trời ơi! Rượu Tà Vạt thì trên cây đấy. Còn rượu gạo thì đi kéo gỗ trong rừng ra cho người kinh, họ cho uống thoải mái. Còn không thì bắt con lợn, con gà trong nhà xuống chợ đổi lấy rượu uống. Đàn ông Cơ tu từ xưa đến giờ chỉ săn con thú rồi ở nhà uống rượu thôi. Không đi làm đâu, đàn ông đi làm là trời phạt đấy. Bhríu Quân có hiểu không. Hay Bhríu Quân là cán bộ nên không sợ bị phạt?

4536bfbcc8f007ae5ee1.jpg -0
Minh họa: Đỗ Dũng

Những lúc như thế Bhríu Quân đành phải mượn thêm trâu, rồi gọi các già làng, phụ nữ ra giúp sức dời đá đi. Có hôm loay hoay cả ngày mà hòn đá vẫn cứ nằm im như người chết nằm trong nhà mồ. Bí quá, Bhríu Quân phải lội bộ xuống xã mất nửa ngày đường để báo cáo rồi nhờ xin máy kéo lên giúp. Cực chẳng biết bao mùa rẫy rồi, nhưng lũ đàn ông vẫn chưa chịu nghe lời anh để tiến bộ lên. Thật là buồn quá.

2. Bríu Quân vào nhà thì cũng là lúc cơn mưa ập tới. Nước từ sông Kôn sau nhà dâng lên nhanh chóng. Nước chảy xiết, cuốn phăng phăng gỗ từ đầu nguồn lỏm nhỏm cả lòng sông. Anh nhìn Alăng Nem than thở.

- Nem ơi! Thế là lũ đàn ông lại nghe người ta xúi phá cái rừng thượng nguồn rồi. Nem có nghe nước sông Kôn gầm rú không. Chắc nó cũng đau vì gỗ xiên vào lòng đấy. Thế này thì mỗi năm nước lại chảy xiết hơn thôi.

Alăng Nem nhìn Bríu Quân mà thấy thương cho cái lòng anh quá. Đáng lẽ giờ này anh đã là cán bộ huyện rồi. Học giỏi nhất làng, nhất xã này. Tốt nghiệp đại học, anh được tuyển thẳng vào làm ở huyện ủy. Nhưng cái lòng thương làng, thương cái rẫy, thương con suối đã bảo anh phải về với làng. Nhưng một mình anh ở cái làng xa trung tâm xã nhất này thì làm được gì đây?

- Anh Bríu Quân ơi! Tôi cũng nghe tiếng sấm rền vang trên đỉnh núi, nghe tiếng nước sông Kôn gào thét. Lòng tôi cũng như có cục than đang cháy đây. Hay tối mai anh xin già làng Clâu Bốc cho họp làng ở nhà Gươl. Cúng thần sông, thần núi, rồi nói lũ đàn ông không đi phá rừng, không uống rượu nữa. Lo lên nương, lên rẫy mà làm thôi - Tiếng Alăng Nem nỉ non.

Bríu Quân nhìn Alăng Nem, lửa trên bếp đang cháy, làm cho má Nem thêm hồng. Nem xinh quá! Tốt cái bụng nữa. Nem đã chờ anh năm mùa rẫy rồi. Năm mùa rẫy là khoảng thời gian anh đi học ở dưới xuôi. Trên này, Nem chăm cho mẹ anh, giữ cho sườn đồi nhà anh luôn có bóng keo xanh ngát và giữ cho mái nhà anh không dột nát mỗi khi mưa rừng về. Quân định bụng sau mùa rẫy này sẽ sang nhà Nem ở rể để phụ giúp cho ba mẹ Nem, để cái rẫy, cái nương nhà Nem thêm xanh, cha mẹ Nem thêm nụ cười mỗi sớm. Nói là ở rể, nhưng hai nhà ở chung một làng thì cũng như ở chính nhà mình thôi.

Nhưng mải việc làng, cái bụng Quân cũng rối bời, nếu không nhanh, thì làng sẽ khó tồn tại giữa trập trùng những núi cao này mất. Nghèo đói, bệnh tật cứ bám quanh năm. Cái ăn không có, nhưng rượu chè, say sưa tối ngày thì có. Mà nghe đâu, lũ đàn ông trong làng lúc này còn lên tận vùng biên giới băng rừng chuyển thuốc phiện về cho người Kinh. Chết thật, nhưng già làng nói còn không nghe, thì Quân phải làm sao đây?

3. Tiếng cồng chiêng vang lên khắp làng, lũ lượt dân làng đổ về phía nhà Gươl. Tối nay không có lửa cháy ở ngoài sân bởi khi chiều mưa to quá, chỉ có lửa của bếp cái nhà Gươl là đang cháy thôi. Hơn trăm con người, đen nhuốc, ướt át vì mưa đang ngồi co ro, xúm xít tìm chút hơi ấm cho nhau. Phía bếp lửa, già làng Clâu Bốc lên tiếng:

- Thưa bà con! Hôm nay làng cho họp đủ năm mươi nóc nhà là có việc quan trọng. Nhà nào không có người đi thì thiệt thòi, nhà nào đi càng nhiều người thì càng tốt.

Già Clâu Bốc dừng lại một chút như đang đếm xem thử nhà nào vắng, rồi lại nói tiếp.

-  Năm nay mùa mưa tới sớm, cái sông nước đã đầy, cái suối cũng đã đầy nước, nhưng không bắt được con cá, con nhái do nước chảy quá mạnh. Mà cái rẫy thì bị lở, bị sạt, cây ngô không đứng được nữa, cây sắn không đứng được nữa. Núi cũng bị sạt, mụt măng, cây sắn cũng lăn xuống hẻm như tảng đá rồi. Lũ đàn ông trai tráng thiếu rượu bỏ đi mô hết rồi. Còn lại người già, đàn bà, con nít thì làm sao có cái ăn đây! Trời ơi, lũ đàn ông đi mô hết rồi?

Tiếng cụ Clâu Bốc chưa dứt thì có tiếng của chị Arất Thơm từ cuối nhà Gươl vừa nói vừa khóc.

- Trời ơi! Già Bốc ơi! Thằng chồng Alăng Cỏ nhà tôi bỏ nhà đi theo lũ người lạ mấy ngày nay rồi. Người lạ vô nhà nói đi theo họ lên biên giới kéo cái cây gỗ to cho họ, rồi tha hồ uống rượu, tha hồ có xe máy chạy khắp núi rừng. Thằng Alăng Cỏ bắt hết con heo đen, con gà mái với ba quả trứng gùi lên biên giới làm mồi uống rượu rồi. Gạo nhà nước cho nó cũng gùi đi luôn. Nhà hết gạo, hết heo, hết gà, ba đứa con tui đói quá, khóc không đứng dậy nổi. Mà trời mưa quá tui không đi đào mụt măng, củ sắn được. Trời ơi! Già Bốc ơi! Hay tui cho chúng nó ăn lá ngón nhé! Khổ quá rồi!

Arất Thơm dứt lời thì lũ đàn bà cũng thi nhau kể khổ, khóc lóc khắp nhà Gươl. Bọn họ ai cũng muốn ra rừng hái lá ngón về ăn rồi bồng bế nhau qua khu nhà mồ nằm chờ chết.

Ngồi sau lưng già Clâu Bốc nãy chừ, Bríu Quân thấy bụng mình nóng quá, giữ trời mưa mà người anh mồ hôi cứ túa ra. Anh cảm thấy thân phận những người đàn bà Cơ tu khổ quá. Họ như con dúi, suốt ngày lầm lũi, hì hục đào bới khắp rừng kiếm cái ăn, chẳng bao giờ ngẩng được mặt lên, bởi phải những đứa con gùi trên lưng, bởi con dốc tìm mụt măng, củ sắn ngày càng cao hơn, bởi những cái rẫy tốt, đồi keo xanh gần nhà được cha ông khai phá trước đây đã bị lũ chồng bán hết lấy tiền uống rượu rồi. Những cái rẫy cao hơn, không có sức đàn ông, không dẫn được nước về thì làm sao trồng cây được. Muốn no cả năm thì phải kéo được lũ đàn ông về làng thôi. Nghĩ đến vậy, Bríu Quân đứng lên xin già Clâu Bốc cho được nói mấy câu.

- Thưa làng! Người già, người trẻ, phụ nữ, con nít làng mình nhất định không được ăn lá ngón nữa. Nhất định phải thế. Mọi người hãy nghe tôi. Hãy làm theo tôi. Đàn ông nhìn cái rẫy của tui. Đàn bà nhìn cái rẫy của Alăng Nem đi. Hãy cùng tôi đi tìm lũ đàn ông về. Cả làng sẽ làm lại cái đường tốt hơn, rồi sẽ qua Mà Cooil, A Ting… học trồng cái cây, nuôi cái con cho mau lớn. Bên ấy họ có cái tổ hợp tác trồng cây ớt Ariêu, nuôi con heo rừng lai, con dúi… bán về xuôi, bán cho cả người nước ngoài để lấy tiền mua gạo, mua muối, mua cái quần áo đẹp cho con nít tới trường, rồi dựng cái nhà to hơn, khỏe hơn, mưa rừng lớn thế nào cũng không sợ. Có ai muốn như thế không? Có ai sáng sớm mai đi về phía biên giới để tìm lũ đàn ông với tôi không?

Bríu Quân dứt lời. Phía dưới có nhiều tiếng xì xào.

Có được không? Lũ đàn ông có về không? Phụ nữ mà đi lên đến tận biên giới, đi kiếm lũ đàn ông thì trời có phạt không hè?

Già Clâu Bốc thấy lũ đàn bà còn ngơ ngác quá. Già cầm một thanh củi đang cháy ở bếp cái giơ lên cao rồi nói lớn:

- Bríu Quân nói đúng đấy! Phải đi kiếm lũ đàn ông về, không cho chúng uống nhiều rượu nữa. Phải nói bọn họ cùng đi rẫy với người già, với phụ nữ thôi. Sáng mai Bríu Quân đi lên phía biên giới tìm kiếm lũ đàn ông, ai khỏe mạnh thì đi theo, ai ốm yếu thì ở nhà giữ làng, giữ lũ con nít. Trời phạt thì tôi xin chịu đầu tiên. Hỡi bà con, đánh tiếng chiêng tiếng cồng, mang con gà trống lên đây tế trời thôi!

4. Mưa vẫn không ngừng trút xuống, làng im lìm nằm sau lưng núi, không có tiếng con gà gáy, con chó cũng nằm lì trong bếp lửa dù trời đã sáng từ lâu, Bríu Quân, Alăng Nem và bốn người đàn bà khác lên đường đi về phía biên giới. Từ làng lên biên giới nếu đi đường chính thì phải mất đến ba ngày. Nếu chịu khó băng rừng, lội suối đi đường tắt thì chỉ mất một ngày thôi. Vậy là cả lũ quyết định đi con đường tắt theo chân Bríu Quân.

Những đỉnh núi Trường Sơn hùng vĩ, sừng sững đứng trong mưa như những người khổng lồ chắn gió bảo vệ cho người Cơ Tu bao lâu nay cứ thoáng ẩn rồi hiện trong mưa và mây mù. Những tán rừng già xanh quá, con sông, con suối hùng vĩ quá, đất nước mình đẹp quá. Tại sao lại bỏ làng, bỏ người già, đàn bà và con nít để lên biên giới kéo gỗ cho bọn người xấu chứ. Những ý nghĩ như thế cứ thường trực trong đầu giúp đôi chân họ thêm khỏe, thêm chắc qua những triền núi trong mưa, trong gió, quên cả mệt, cả đói, chỉ có khát thì ngửa mặt lên trời cho nước mưa rơi xuống miệng.

Hết một ngày đường miệt mài, khi mặt trời chập choạng tối, cả lũ cũng đã đến được nơi biên giới. Bên kia sông, họ thấy một đoàn vừa người, vừa trâu, vừa đèn đuốc đang từ những triền núi di chuyển qua những tán rừng để đến nơi đầu nguồn sông Kôn. Những con trâu mệt nhọc, chậm chạp kéo từng khúc gỗ lớn sau chân, mũi ngất lên trời cố thở lấy không khí, nhưng nước mưa cứ xộc vào đó khiến chúng cứ đi một đoạn là lại chúi sừng, chúi mũi xuống cạ cạ vào đất cho đỡ khó chịu.

Những người đàn ông Cơ Tu từ khắp núi rừng đổ về kéo gỗ thuê ở đây, người thì lấy hết sức kéo sợi dây xỏ vào mũi trâu ở phía trước, người thì ở phía sau vung roi mây vào lưng trâu mỗi lúc chúng định dừng lại. Cả đoàn hì hục lầm lũi, bùn đất vung khắp mặt mày, lê thê nặng nhọc về nơi đầu nguồn để tập kết gỗ. Tại khoảng đất nơi đầu nguồn, những người lạ xăm trổ đang cố hò hét, hối thúc những người đàn ông Cơ Tu nhanh chóng thả những bè gỗ lớn theo dòng nước chảy xiết của con sông Kôn để về điểm tập kết ở phía dưới. Bríu Quân quay lại dặn những người đàn bà theo chân mình từ sáng đến giờ:

- Một lát nữa, tôi sẽ bám theo lũ người này, để biết chúng khai thác gỗ ở đâu. Khi đi, tôi sẽ ghim những chiếc lông chim chào mào sông Kôn trên đường để đánh dấu. Alăng Nem dẫn mọi người về phía đồn biên phòng báo các anh bộ đội. Sau đó lần theo những chiếc lông chào mào tôi để lại mà tìm nhé.

5. Khi những bè gỗ đã được thả trôi theo dòng nước chảy xiết về dưới thì trời cũng đã khuya. Đoàn người khai thác gỗ lậu lại nhanh chóng thúc trâu lên lại con đường mòn trên sườn núi để đi vào phía rừng sâu. Bhríu Quân cố bám sát theo họ. Họ lầm lũi xuyên rừng hơn một giờ đồng hồ thì đến đến một rừng Pơ Mu cổ thụ nằm vắt ngang giữa hai ngọn núi nơi biên giới. Đây là rừng Pơ Mu nguyên sinh, khá kín, đường đến lại rất hiểm trở. Những người đàn ông Cơ Tu bắt đầu chia nhau thành từng tốp để vào các lán trại. Họ đến từ khắp nơi, A Xan có, Trhy có, A Ting có, Jơ Ngây có, Mà Cooil cũng có.

Trong lán, họ đang cố ngậm lấy những cần rượu cong vút được cắm sâu vào những chiếc ché rất lớn. Một số khác thì đang tụ tập rít thuốc lào có trộn thêm chất bột màu trắng. Mắt ai cũng trắng bệch, lờ mờ. Những người Kinh thì khác, họ uống thứ rượu màu nâu nhạt, hút thuốc điếu, tay lăm lăm những khẩu súng tự chế, và luôn để mắt nhìn xung quanh. Trong ánh lửa lập lòe, Bhríu Quân cố gắng tiếp cận những người đàn ông làng mình. Một, hai, ba, bốn…. hai mươi, hăm mốt. Sau lại có hăm mốt? Rõ ràng lũ đàn bà nói có hăm lăm người mà hè? Quân tự nhủ? Anh luồn vào ngồi chung với những người đàn ông làng mình. Miệng cũng ngậm rượu cần, nhưng tay đưa lên miệng ra dấu họ im lặng. Anh hỏi nhỏ Bhríu No về những người còn lại. Bhríu No xém bật khóc khi thấy Quân.

- Bhríu Quân ơi! Ở đây uống cái ché rượu to, hút cái thuốc thơm nhưng khổ lắm. Người Kinh bắt làm sáng sớm đến tối mịt, làm không nổi thì bị bỏ đói, bỏ trốn thì bị đánh đến chết à! Arất Thơm, Bh'nướch Tiền bị sốt nằm ở cuối lán chờ chết thôi. Còn lại hai người Zơrâm Nhảy, Bh'nướch Cơm nghe nói đi qua bên kia biên giới lấy cái thuốc trắng về cho người Kinh rồi. Họ cho hút cái thuốc trắng, rồi họ nói sao là làm vậy thôi. Muốn về làng lắm, nhưng sợ lắm Bhríu Quân ơi. Nhớ làng, nhớ vợ con lắm rồi. Về làm rẫy thôi, không uống rượu, không đi theo người kinh lên biên giới nữa mô. Giúp bọn tôi với Bhríu Quân ơi!

Bhríu Quân nghe họ nói mà xót cái bụng lắm, anh nói họ yên tâm. Ngày mai cứ làm việc bình thường cho người Kinh. Không được bỏ trốn. Nếu Zơrâm Nhảy, Bh'nướch Cơm có về, nói họ giả bị sốt rét rồi vào nằm chung với Arất Thơm, Bh'nướch Tiền ở sau lán luôn. Tôi sẽ có cách giúp mọi người về làng.

Khi Bhríu Quân vừa quay ra, thì những con chó săn của người Kinh đánh hơi thấy mùi người lạ, bắt đầu sủa inh ỏi. Người Kinh ở phía ngoài cũng bắt đầu đi vào bên trong lán để kiểm tra. Bríu Quân biết nếu tiếp tục di chuyển thì anh sẽ bị phát hiện mất. Nhưng ở trong này biết trốn chỗ mô đây. Trời ơi! Chết mất.

Đang hoảng loạn. Bỗng một ý nghĩa táo bạo lóe lên. Bhríu Quân leo luôn vào ché rượu cần ngay trước mắt. Lũ chó lùng sục khắp lán, nhưng như con chim bay biết lên trời, mùi của người lạ mới đó mà giờ tự nhiên biến mất. Cáu tiết, chúng đuổi cắn nhau loạn xạ cả lên. Người Kinh ra hiệu cho tất cả đứng dậy. Lần lượt từng người một đi ra khỏi lán. Thế nhưng đến người cuối cùng ra khỏi lán rồi vẫn không thấy người lạ nào ở đây. Họ lại bảo tất cả vào lại bên trong, cấm không ai được ra ngoài, rồi cho những con chó săn vào bên trong lán nằm.

6. Nhờ mùi rượu mà lũ chó không thể biết Bhríu Quân đang ở đâu. Rượu vẫn còn khá trong ché. Quân phải ra hiệu để lũ đàn ông làng mình hút bớt. Trời đêm nơi biên giới rất lạnh, ngồi thu lu trong ché, Quân nghĩ chẳng bao lâu nữa mình cũng mềm nhũn ra như củ sâm dây trong ché thôi. Nhưng bên ngoài lũ chó vẫn rất tỉnh, người Kinh thì vẫn luôn quan sát từ phía bên ngoài.

Quân cảm thấy cơ thể mình lúc nóng lúc lạnh, Quân bắt đầu sốt thì phải. Trong cơn mê, Quân thấy anh và lũ đàn ông làng mình hú nhau đi đắp lại con đường vào làng. Rồi cùng nhau trồng những cái rẫy sắn, rẫy lúa, rẫy ớt Ariêu rất to. Khi rừng đầu nguồn không còn bị phá nữa, nước sông Kôn chảy qua làng cũng nhẹ nhàng như đàn bà dệt vải, mỗi buổi chiều họ cùng nhau tắm mát, rồi bắt thêm những con cá niên, cá chình cho buổi tối quây quần bên gia đình. Những ngôi nhà mới được dựng lên khang trang hơn, lũ con nít có quần áo vui vẻ đến trường, không đứa nào phải bỏ học để đi rẫy nữa. Sau những ngày lao động, đêm về, lũ đàn ông, đàn bà vây quanh đám lửa chỗ sân nhà Gươl múa điệu tung tung da dá truyền thống. Người già thì hút thuốc, kể cho lũ con nít nghe về chuyện người Cơ Tu ngày xưa góp gạo nuôi bộ đội hành quân qua đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ để vào Nam đánh giặc mà có đất nước ngày hôm nay.

Trong mê, Quân lại nghe thấy tiếng Alăng Nem hát điệuKa lới gọi lũ chim chào mào về sông Kôn kết đôi, làm tổ. Tiếng hát nghe hay quá. Rồi Quân lại thấy mình và Alăng Nem nắm tay nhau lên rẫy, tựa đầu vào gốc cây lim già nhìn những sườn núi xanh mát bóng cây…

Trời sáng, trong hơi sương pha lẫn hơi rượu, Quân nghe tiếng chó săn của người Kinh sủa inh ỏi bên tai. Nhưng cái chân, cái tay anh không còn động đậy được nữa. Con mắt Quân giãn ra vì hình như có ánh sáng rọi vào. Tiếng Bhríu No đang khóc thì phải. Trời ơi! Vậy là người Kinh đã phát hiện ra Quân rồi ư. Lần này thì chết chắc rồi trời ơi, già Clâu Bốc ơi!

Quân cố mở mắt để nhìn ra ngoài lán. Những người đàn ông Cơ Tu thì xếp thành một hàng dài. Lũ chó săn bị dồn vào một góc sủa inh ỏi. Trời chuẩn bị mưa. Quân nghe cả tiếng sấm từ trên đỉnh Quế vọng xuống thì phải. Thế là hết, chỉ vì Quân mà lũ đàn ông ở đây gặp nguy hiểm rồi. Quân định tìm Bhríu No để an ủi nó. Nhưng lạ thay, mắt Quân lại thấy Alăng Nem đang cười trước mặt mình. Trời ơi! Lẽ nào Quân đã về trời với ông bà rồi hay sao. Sao Alăng Nem lại ở đây. Lũ người Kinh đâu rồi. Sao Alăng Nem có thể vào đây được?

Alăng Nem mỉm cười rồi kề tai Quân nói nhỏ.

- Bộ đội biên phòng đã bắt hết lũ người xấu rồi anh Bhríu Quân ơi. Đêm hôm qua chúng tôi đã dẫn bộ đội lần theo những chiếc lông chim chào mào sông Kôn mà anh ghim ở những thân cây để đến rừng Pơ Mu này. Người xấu bị bắt hết rồi anh Quân ơi. Anh nhìn kìa. Lũ đàn ông, đàn bà làng mình được gặp nhau rồi đấy. Chúng ta chuẩn bị về làng thôi.

7. Tiếng cồng chiêng lại vang lên dồn dã ở nhà Gươl, điệu tung tung dá dá lại được đàn ông, đàn bà múa quanh đống lửa. Già Clâu Bốc đứng trên sàn nhà Gươl nhìn xuống nói lớn.

- Thưa cả làng! Nay lũ đàn ông đã về lại làng như cái nhà lại có cái cột, cái mái vững chãi rồi. Bắt đầu từ nay, đàn ông, thanh niên làng này không uống rượu, không đi theo người xấu phá rừng nữa. Nên đi theo Bhríu Quân làm lại cái đường, mở rộng thêm cái rẫy, dẫn cái nước trong khe ra, rồi đi học trồng cái cây, nuôi cái con cho mau lớn. Đàn bà thì đi theo Alăng Nem gieo cái hạt lúa, hạt bắp trên rẫy cho mau xanh. Dệt cái áo truyền thống cho đẹp. Nuôi đứa con nít cho khỏe mạnh. Người Cơ Tu xưa nuôi bộ đội Bác Hồ đi đánh giặc được thì nay cũng phải xây dựng được cái làng cho đẹp, ăn cái bụng cho được no, mặc cái áo cho đẹp, cho ấm…

Bhríu Quân nắm tay Alăng Nem cùng múa điệu tung tung da dá dưới sân. Những cơn mưa rừng đã ngớt. Tiếng nước sông Kôn không còn gầm thét dữ dội nữa. Mùa xuân đã về. Ngày mai, Quân sẽ sang nhà Alăng Nem thưa chuyện của cả hai.

Truyện ngắn của Trần Ngọc Đức


Tác giả: Nguyễn Anh Tú
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan